Chuyên ngành Hóa hữu cơ
Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Vân Hải

Tên đề tài luận án: "Nghiên cứu phát triển phương pháp phân tích đa siêu vi lượng một số hoá chất bảo vệ thực vật".
 



Thông tin chi tiết

 

1. Họ và tên nghiên cứu sinh: Nguyễn Thị Vân Hải

 

2. Giới tính:Nữ

 

3. Ngày sinh:18/9/1960

 

4. Nơi sinh: xã An Bình Tây- huyện Ba Tri - tỉnh Bến Tre

 

5. Quyết định công nhận nghiên cứu sinh số: 364/ĐT-SĐH, ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Đại học Quốc gia Hà Nội.

 

6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo:

 

7. Tên đề tài luận án: "Nghiên cứu phát triển phương pháp phân tích đa siêu vi lượng một số hoá chất bảo vệ thực vật"

 

8. Chuyên ngành:Hoá hữu cơ

 

9. Mã số:1.04.02

 

10. Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS. Phạm Hùng Việt;

                                                 GS.TSKH. Nguyễn Đức Huệ.

 

11. Tóm tắt các kết quả mới của luận án:

 

Các kết quả chính và kết luận

 

            * Về nghiên cứu khảo sát phương pháp SPME, LPME đã thu được một số điều kiện tối ưu đối với từng phương pháp:

 

            + Phương pháp SPME:

 

- Chiết các nhóm HCBVTV nghiên cứu từ mẫu nước vào pha tĩnh của sợi chiết PMPS có độ dày 26,7mm, chiều dài 1cm, thời gian chiết là 45 phút, dung dịch mẫu được bão hoà bằng muối NaNO3 (50%) ở nhiệt độ 350C và khuấy nhẹ (60-100 vòng/phút). Sau đó, đưa sợi chiết đã hấp phụ các chất cần phân tích vào bộ phận bơm mẫu của thiết bị GC giải hấp (2800C, 2 phút) và phân tích sắc ký.

 

- Chiết các chất cần phân tích từ mẫu đất vào pha tĩnh của sợi chiết đặt trong không gian hơi (HS SPME-GC/ECD): sợi chiết PMPS có độ dày 26,7mm, chiều dài 1,5cm, 2g mẫu/lọ (dài 8cm, đường kính 1,5cm), giảm áp suất lọ bằng cách rút 7 xy-ranh (7ml) hơi ở nhiệt độ thường, rồi đưa lọ mẫu lên nhiệt độ 1400C, thời gian chiết 60 phút. Sau đó, đưa sợi chiết đã hấp phụ các chất cần phân tích vào bộ phận bơm mẫu của thiết bị GC giải hấp (2800C, 2 phút) và phân tích sắc ký.

          

            + Phương pháp LPME: giọt dung môi chiết là 1ml xiclohexan, thể tích mẫu 10ml, muối NaNO3 (20%), pH = 2, gia nhiệt tới 500C, khuấy 60 vòng/ phút, chiết trong 12 phút.

 

            * Về nghiên cứu áp dụng:

 

            Áp dụng các quy trình tối ưu xây dựng được (ELISA, SPME và LPME) vào phân tích một số mẫu thự tế được lấy từ nhiều địa phương khác nhau, đã cho phép khẳng định:

 

            - ELISA có tiềm năng sử dụng làm phương pháp phân tích sàng lọc các HCBVTV cơ clo họ xiclodien trong mẫu môi trường trước khi thực hiện định lượng chi tiết bằng các phương pháp phân tích sắc ký.

 

            - Hai phương pháp SPME và LPME đều có khả năng chiết tách làm giàu mẫu rất tốt; có thể dùng dụng cụ SPME tự chế tạo chiết tách HCBVTV thuộc các nhóm nghiên cứu trên.

 

12. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn:

 

13. Những hướng nghiên cứu tiếp theo:

 

14. Các công trình đã công bố có liên quan đến luận án:

 

1.      Nguyễn Đức Huệ, Đặng Quốc Thuyết, Phạm Hùng Việt, Nguyễn Thị Vân Hải (2004), "Nghiên cứu phương pháp vi chiết pha rắn kết hợp với máy sắc ký khí (GC/ECD) phân tích đa dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong nước", Tạp chí phân tích Hoá, lí và sinh học, 9 (2), tr. 3-13.

 

2.      Nguyễn Thị Vân Hải, Nguyễn Hải Yến, Nguyễn Đức Huệ (2005), "Nghiên cứu phương pháp vi chiết pha lỏng kết hợp với máy sắc ký khí (GC/ECD) phân tích một số hoá chất bảo vệ thực vật trong nước", Tạp chí phân tích Hoá, lí và sinh học, 10 (1), tr. 42-49.

 

3.      Nguyễn Thị Vân Hải, Trần Mạnh Trí, Nguyễn Đức Huệ (2005), "Nghiên cứu phương pháp vi chiết pha rắn kết hợp với máy sắc ký khí (GC/ECD) phân tích trực tiếp một số hoá chất bảo vệ thực vật trong đất", Tạp chí phân tích Hoá, lí và sinh học, 10 (4), tr. 29-36.

 

4.      Nguyễn Thị Vân Hải, Phạm Ngọc Hà, Phan Thu Thuỷ, Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn Ngọc Vinh, Phạm Hùng Việt, Ivan R.Kennedy (2005), "Nghiên cứu phân tích thuốc trừ sâu họ xyclodien trong các mẫu nước, đất và rau tại vùng trồng rau Vân Nội Bằng cách ứng dụng Phương pháp phân tích miễn dịch gắn enzym (ELISA)", Tạp chí phân tích Hoá, lí và sinh học, 10 (4), tr. 37-45.